Gươm chém thuồng luồng suối rồng

By

GƯƠM CHÉM THUỒNG LUỒNG SUỐI RỒNG

(Truyện cổ dân gian Thái)  

 

        Ngày xửa ngày xưa con trai út của vua Then và nàng xao con gái út của một vị xen cha[1] ở trên mường bun (tiên giới) thương yêu nhau tha thiết. Nhưng khi chàng còn chưa kịp nhờ người mai mối tới dạm hỏi thì nàng đã bị con trai của vua thuồng luồng cướp đem về làm vợ. Chàng út đi xuống mường lúm (trần gian) để tìm nàng. Chàng đi mãi khắp mọi nơi hang cùng ngõ hẻm mà vẫn không thể nào tìm được nàng.

          Một buổi đương lang thang ở trong rừng chàng út bỗng tình cờ gặp một vị xen cha đang cưỡi ngựa đi săn. Nhìn thấy bộ dạng chàng thảm hại thểu não vì mãi vẫn chưa tìm được người yêu nên xen cha mới xuống ngựa để hỏi thăm. Chàng út kể cho xen cha nghe chuyện. Thương tình xen cha liền đưa cho chàng một thanh gươm và dặn bao giờ chàng mài sắc được thanh gươm này thì sẽ tìm lại được nàng xao út.

          Chàng út cầm thanh gươm đi tìm chỗ mài đợi ngày báo thù thuồng luồng đã cướp mất người yêu. Chàng đi cho đến khi gặp một bản nhỏ nằm cạnh con suối tá xi[2] (Suối Rồng) thì dừng lại ở nơi này để mài gươm. Chàng mài từ khi còn là một thanh niên cường tráng cho tới khi trở thành ông lão râu dài tóc bạc mà thanh gươm vẫn cùn chưa sắc.  Không hề nản ngày nào cũng như ngày nào chàng út lúc này đã là ông lão cứ bắt đầu vào lúc mặt trời mọc là lại cầm gươm ra ngồi mài ở bến suối tá xi. Nếu có ai hỏi ông mài gươm làm gì thì ông nói là mài gươm để đến mùa thi còn đem đi thi chém. Nhưng rồi mặc cho tháng trôi năm qua mọi người vẫn chẳng thấy ông mang gươm đi thi thố ở đâu cả mà chỉ thấy ngày ngày ông đem gươm ra cặm cụi mài ở ngoài bờ suối. Dân bản chứng kiến cái chuyện kỳ dị này mãi rồi cũng quen họ mặc kệ ông ngồi mài không ai hỏi đả động gì đến ông nữa.

          Thế rồi một hôm có một đám buôn lớn đi qua chỗ ông lão đang ngồi mài gươm. Nhìn thấy thanh gươm sáng loáng đẹp quá họ bèn nằn nỉ gạ hỏi mua với ông và trả giá cực cao. Nhưng nói thế nào thì ông lão vẫn cũng cứ lắc đầu từ chối không bán. Họ hỏi lý do tại sao ông không muốn bán thanh gươm.

          Ông lão thủng thẳng đáp:

          - Gươm này còn dùng để chém thuồng luồng suối tá xi!

          Đám lái buôn đành ngao ngán thất vọng bỏ đi. Nhưng câu nói của ông lão thì đã bị bầy cá nghe thấy. Chúng liền đem tâu lại với vua thuồng luồng cai quản con suối tá xi. Vua thuồng luồng tức quá mới lên bờ và hoá thành một cụ già lưng còng chống gậy tới gặp người ông lão mài gươm.

          Ban đầu vua thuồng luồng giả vờ ngỏ ý hỏi mua thanh gươm. Ông lão từ chối không bán. Vua thuồng luồng hỏi tiếp:

          - Vậy thanh gươm này ông định dùng để làm gì?

          Ông lão đáp:

          - Gươm ta dùng để đi thi chém thứ gì cũng chém con gì cũng chém cái gì trôi qua trước mặt là chém! Và chém chỉ một nhát là đứt!

          Vua thuồng luồng lại hỏi:

          - Thế thần thuồng luồng ở dưới nước ông có chém được không?

          Ông lão khẳng định:

          - Chém được tất! Nếu chém một nhát mà không đứt thì ta sẽ chịu mất thanh gươm này.

          Thế rồi ông lão vừa ngồi mài gươm vừa hát nghêu ngao:

          "Gươm lưỡi thiêng ta mài từ thưở nhỏ

          "Mài cho đến già để chém thuồng luồng tá xi

          "Cho tới mùa thi lưỡi gươm thật sắc bén

          "Già này sẽ đem chém thuồng luồng tá xi![3]"

          Nghe ông lão nghêu ngao hát vậy vua thuồng luồng giật mình trong lòng dạ của cảm thấy không yên bởi sợ sau này có lúc ông lão sẽ mang gươm đi chém họ hàng thuồng luồng sống ở dưới nước. Vua thuồng luồng bèn đánh cược với ông lão nếu ông không chém chết được thuồng luồng tá xi thì sẽ phải chịu mất thanh gươm của xen cha.

          Vì lúc nãy đã chót nói mạnh nên ông lão đành phải đồng ý và hẹn ngày đánh cược. Sau khi vua thuồng luồng đi rồi nhìn lưỡi của thanh gươm vẫn còn cùn lòng dạ buồn rười rượi nên ông lão bật ra những tiếng than thở. Đúng lúc này thì có một con rái cá chạy qua. Nhìn thấy ông lão buồn bã thở dài rái cá cất tiếng hỏi:

          - Tại sao ông lại buồn đến như vậy?

          Ông lão đem chuyện kể cho rái cá nghe. Rái cá bèn bảo ông:

          - Khó gì đâu! Muốn lưỡi gươm sắc thì trong khi mài ông hãy khóc và nhỏ những giọt nước mắt của ông vào đó.

          Ông lão làm theo đúng như lời của rái cá không ngờ rằng lưỡi gươm đã nhanh chóng trở nên sắc bén. Và để cho thanh gươm sắc bén hơn nữa hôm nào ông cũng vẫn mang gươm ra bờ suối mài và thấp thỏm chờ mong đến ngày hẹn.

          Sắp tới ngày hẹn vua thuồng luồng lại hoá thành người tìm đến gặp ông lão. Vua thuồng luồng hỏi thăm dò:

          - Ông định làm thế nào để chém chết thuồng luồng?

          Đoán biết đó chính là vua thuồng luồng hoá thành người để dò hỏi ông lão tỉnh bơ đáp lại:

          - Cho dù thuồng luồng hoá thành bất cứ con vật gì hay là các loại gỗ gì thì lão cũng chỉ chém một nhát là đứt. Chỉ khi nào thuồng luồng hoá thành cây chuối rừng thì lão mới chịu không thể chém đứt được!

          Vua thuồng luồng không tin nên tìm cách thử ông lão. Vua cho quân hoá thành con chim dữ bay đến mổ ông lão. Ông chém một nhát đứt đôi con chim. Vua lại cho quân hoá thành thân cây chuối rừng trôi qua trước mặt ông lão. Ông bỏ qua không chém. Thấy mọi điều đúng như ông lão đã nói vua thuồng luồng yên tâm trở về mường nước.

          Đến ngày hẹn ông lão cầm gươm ra đứng đợi sẵn ở bên bờ suối. Họ hàng thuồng luồng tất cả đều hoá thành cây chuối rừng cứ thế lững thững trôi qua trước mặt ông lão. Ông không dám chém vì sợ chém nhầm phải cả người yêu. Bối rối quá ông lão ôm đầu rồi ngửa mặt lên trời than kêu Vua Then giúp đỡ. Vua Then bèn hoá thành một con diều hâu bay xuống giúp con trai.

          Diều hâu bảo:

          - Thân cây chuối nào mà ta bay tới đậu thì đó chính là nàng xao út! Đừng có chém phải!

          Không sợ nhầm nữa vậy là ông lão vung gươm chém lia lịa vào thân các cây chuối trôi qua trước mặt. Nhưng chém đã mỏi tay mà vẫn chẳng thấy diều hâu đậu xuống đâu cả nên ông lão rất sốt ruột. Ông vừa chém vừa ngóng nhìn lên bầu trời để tìm bóng diều hâu. Bỗng dưng từ giữa không trung nổ ầm vang một hồi sấm bầu trời tối sầm lại. Rồi từ phía thượng nguồn lừng lững trôi xuống một bè chuối trên bè có một con nôộc cháu phạ (chim thiên nga) đang đậu. Đúng lúc này chim diều hâu bất thình lình xuất hiện nó lao xuống cắp chặt lấy nôộc cháu phạ rồi bay vút lên trời.

          Đoán biết được là người yêu đã được diều hâu cứu thoát đem trở về mường bun nên ông lão yên tâm ra sức chém chết hết số thuồng luồng còn lại. Sau đó ông ném thanh gươm vào rừng trả lại cho xen cha rồi lập tức bay theo một ngọn gió để trở về trên mường bun.

          Trở về đến mường bun thì ông lão thấy đám cưới cho mình và nàng xao út đã được chuẩn bị chu đáo đâu vào đấy. Mọi người chỉ còn đợi ông lão về tới nơi là bắt đầu cuộc vui. Đám cưới diễn ra linh đình ai ai cũng chúc phúc cho hai người dù cho nay đã tóc bạc da mồi nhưng được ở bên nhau như hằng mong ước.

          Sau đám cưới hai người không ở lại sống cùng với vua Then. Mà họ hai mái đầu bạc cùng nắm tay nhau biến thành đám mây trắng bay lang thang nay đây mai đó khắp mọi nơi nhàn du rong chơi ngắm nhìn thiên hạ.

          Người mường lúm thấy vậy mới đặt thơ hát về họ:

          "Đời người tựa như mây trắng bay

          "Nắm tay nhau rong chơi khắp bản mường

          "Khi trời nắng ta hoá mây che đầu cho mẹ

          "Làm bóng mây  râm che mát cho mẹ yêu!"[4].



                [1] Xen cha: Là từ mà người Thái dùng để chỉ chung các vị thần tiên.

                [2] Theo lịch cổ của người Thái thì chi xi đứng tinh con rồng tương tự như chi thìn ở trong lịch Can Chi. Bởi vậy tá xi cũng có thể được hiểu là Suối Rồng. Song lại có người hiểu từ xi theo nghĩa kỳ rửa vậy cho nên giải thích tá xi có nghĩa là con suối để kỳ rửa tắm giặt. Tuy nhiên tác giả biên soạn nghiêng về cách giải thích xi là rồng bởi thấy cách giải thích này hay và phù hợp với nội dung câu chuyện hơn.

                [3] Nguyên văn phiên âm tiếng Thái: "Đáp cặm lợm lặp chợ mớ nọi/ Khỏi thảu vạy phặn ngợ tá xi/ Họt mộ pí đáp lặp chắng khảu/ Thảu mạ lọ phặn ngợ tá xi!".

                [4] Nguyên văn phiên âm tiếng Thái: "Chố cụn pin vả mók khao/ Chung khen căn cá mợng ỉn dú/ Phạ đét họn chí dú hẳư mé ý lả hủm hô/ Chợ bơn mộ hẳư mé ý pẹng dú din".

More...

tháng năm xanh táo mèo non

By

THÁNG NĂM XANH TÁO MÈO NON

           Vào ngày đầu tháng 5 người bạn H mông đem từ bản xuống cho mình lưng túi thổ cẩm táo mèo non. Quả nào quả nấy nom mướt xanh nhẵn thín nhỏ thì bằng nhãn nước to nhỉnh hơn thì bằng cà pháo. Ừ thì mình thuận miệng quen gọi theo cái tên tục là mák tàu y là quả táo mèo là trái chua chát chứ thứ quả này còn có cái tên đông y sang trọng gọi là sơn tra vị thuốc giúp lợi gan thông huyết kháng khuẩn.

          Thú thực mình vốn là kẻ kém ăn chua nhìn thấy chua là tỉnh bơ nên chả mấy khi đụng đến ngay cả miếng táo mèo chua chín nếu được mời nhiệt tình nể quá thì cũng chỉ ăn nếm chút ít gọi là song mình vẫn rất hào hứng đón nhận món quà táo mèo non từ tay bạn. Bởi dù quà chẳng đáng bao nhưng là cả tấm tình thảo thơm của bạn đối với mình. Bạn quý mình lắm thì mới leo cây vít cành hái táo mèo non đem biếu. Chứ hái quả còn non như vậy phí hoài của lắm. Quả đã mang xuống đến chợ là phải già chín to cỡ bằng trứng gà trứng vịt không ăn thì có thể đem ngâm đem phơi làm thuốc. Loại quả già chín như thế mới vừa thu hoạch được dôi vừa bán được giá.

          Bạn giục bảo mình bằng giọng Kinh lơ lớ "ăng đi quả chua chát noong này ngoong lắm đấy!". Ngại thật đã bảo rồi tính mình vốn đâu có thích những thứ quả chua nên đành cười cười khéo chối bằng cách nói rằng sẽ để dành ăn sau bởi không muốn bạn phiền lòng cho rằng mình chê tấm quà đơn sơ của bạn.

          Nhưng trong nhà lại có người khác ngược hẳn tính mình thấy quả chua là hào hứng thực sự có thể ăn vồ ăn vập quả chua đến vận toát cả mồ hôi. Chẳng cần bạn phải giục mời thêm nhiều lời người nhà mình lập tức nhanh nhảu trộn đĩa muối ớt tiêu rồi bê ra thứ này mà đem chấm quả chua là vô cùng hợp.

          Thoạt tiên như thường tình mình làm kẻ dửng dưng đứng ngoài cuộc thưởng thức táo mèo non. Nhưng mấy người nhà ăn cứ nắc nỏm xuýt xoa ngon quá ngon ghê ngon tợn ngon tuyệt và giục mình nếm thử khiến cho mình cũng cảm thấy… xiêu xiêu động lòng. Ờ thì đây xin a dua theo cùng mọi người vậy. Thế là mình nhón lấy một quả đem chấm vào đĩa muối ớt tiêu rồi nếm rồi cắn ý nghĩ sẵn sàng chuẩn bị đón thứ vị chát đắng the giống như của quả đào non mà đã có lần mình nhấm thử. Nhưng… ồ lạ thay! Mình đã lầm khác hẳn thứ đào non khó nuốt táo mèo non nhai cả quả cứ sần sật vị không một chút the đắng chỉ chua rôn rốt vừa tầm phải độ cho những kẻ kém ăn chua như mình ăn cảm thấy dễ chịu. Phải thầm thừa nhận rằng mấy người nhà mình có vừa ăn vừa xuýt xoa khen thì cũng đâu là quá.

          Thế rồi đang ăn bỗng dưng mình chợt nhớ tới khúc đầu cá trắm đang được cất trong chạn chưa kịp nấu canh chua. Vậy là mình nảy ra ý: Dùng táo mèo non đem nấu canh chua với cá rau gia vị nêm thì cứ húng quế mùi tàu thì là hành hoa như món canh chua cá bình thường chắc là ăn sẽ rất ngon và… lạ.

          Nhưng cái ý định dùng táo mèo non nấu canh chua cá lập tức bị… phá sản. Bởi chẳng mấy chốc lưng túi táo mèo non bạn biếu người nhà mình đã hưởng sạch hết veo. Dường như vẫn chưa bõ bèn gì mọi người tỏ vẻ còn thòm thèm lắm. Cam đoan nếu lúc này mà có thêm đầy một túi thổ cẩm táo mèo non nữa thì cũng sẽ hết veo trong thoáng chốc.

          Thế đấy! Cứ nghĩ rằng mình chẳng còn lạ gì về những thứ quả cây quen thuộc của đất núi quê rừng. Vậy mà sau mấy mươi năm sống làm người của quê núi chứng kiến đủ bấy nhiêu mùa hoa táo mèo đi qua nay mới là lần đầu tiên mình nếm và biết thế nào là vị ngon lý thú của quả táo mèo non xanh.

 

More...

Tại sao loài ve sầu rỗng ruột?

By

TẠI SAO LOÀI VE SẦU RỖNG RUỘT?

            Chuyện xảy ra đã từ ngày xửa ngày xưa. Vào một buổi trưa mùa hè trời nắng chang chang đàn ve rừng cất tiếng kêu inh ỏi. Có một con hoẵng đang kiếm ăn ở bên cạnh nương vừng nghe thấy tiếng ve đột ngột cất lên thì giật thót mình. Hoẵng co chân nhảy chạy qua đám quả cây vừng đang vào độ chín làm cho hạt vừng bị bắn tung toé phải vào mắt của một con gà rừng. Gà rừng đột ngột bị hạt vừng bắn đúng vào mắt nên cuống cuồng bay đậu lên cành cây nơi có một tổ kiến bống. Bởi mắt đang bị đau cộm bởi hạt vừng nên gà rừng tức bực cứ thế bới lia lịa phá tổ kiến bống. Kiến bống bị phá tổ liền bò ra khắp cả cành cây. Bầy kiến bống đang bò thì gặp một con sóc thế là chúng bám chặt lấy con sóc và cùng nhau ra sức đốt. Sóc bị kiến đốt đau liền leo tót lên dây mák tỉnh kình[1] đồng thời cắn lung tung vào những thứ gặp ở xung quanh. Vô tình sóc cắn đứt cuống một quả mák tỉnh kình làm quả mák tỉnh kình rơi xuống trúng phải lưng một con trâu. Trâu giật mình tưởng có ai lấy đá ném mình nên lồng lên chạy thục mạng và nhảy xuống một cái ao. Không ngờ trâu giẫm phải một con nòng nọc khiến cho nòng nọc bị thủng bụng lòi gan ruột ra ngoài. Bị mất hết ruột gan nên nòng nọc bèn lên tận mường bun tìm tới vua Then để kêu kiện.

           Vua Then hỏi:

          - Nòng nọc tìm lên đây có việc gì?

          Nòng nọc đáp:

          - Thưa con muốn kiện kẻ đã làm hại con.

          Vua Then hỏi tiếp:

          - Vậy kẻ nào đã làm hại nòng nọc?

          Nòng nọc bèn kể rõ từ đầu:

          - Thưa vua Then! Con đang sống yên ổn ở dưới ao. Bỗng dưng vô cớ lại có một con trâu chạy lồng đến. Nó dẫm phải con khiến cho con bị vỡ nát bụng gan ruột chẳng còn gì. Vậy mong vua Then hãy trừng trị con trâu.

          Vua Then cho gọi trâu tới để xét hỏi.

          - Tại sao trâu lại tự dưng giẫm bẹp gan nát ruột của nòng nọc?

          Trâu ra sức thanh minh:

          - Xin vua Then xem xét cho công bằng. Không phải là tại do con cố ý. Mà là tại có một quả mák tỉnh kình rơi trúng phải lưng con khiến cho con hoảng sợ mà lồng chạy lung tung nên mới vô ý giẫm phải nòng nọc đấy thôi.

          Vua Then lại cho gọi quả mák tỉnh kình đến để hỏi:

          - Bỗng dưng tại sao ngươi lại rơi rụng trúng vào lưng trâu?

          Mák tỉnh kình thưa:

          - Tất cả đều tại con sóc. Con vẫn đang gắn lơ lửng ở trên dây. Tự dưng sóc ở đâu chạy tới cắn đứt cuống vì thế nên con mới rụng xuống trúng phải lưng trâu đấy ạ.

          Vua Then lại cho gọi đến sóc.

          - Sao ngươi bỗng dưng lại đi cắn đứt cuống của quả Mák tỉnh kình?

          Sóc liền ra sức thanh minh để chối tội:

          - Dạ thưa vua Then. Con đang kiếm ăn ở trên một cành cây. Nào ngờ có đám kiến bống lại bâu đến cắn con. Đau không chịu nổi nên con mới cắn lung tung lỡ trúng phải quả mák tỉnh kình. Vậy nên có trách tội thì xin vua Then hãy trách tội đám kiến bống đã cắn con ấy ạ.

          Vua Then tiếp tục cho gọi bầy kiến bống lên và hạch tội:

          - Sao đám kiến các ngươi tự dưng lại đi cắn con sóc?

          Kiến từ tốn trình bày:

          - Đàn kiến chúng con xưa nay vốn chỉ biết chăm chỉ làm ăn nào đâu có nỡ muốn hại ai. Nhưng chẳng hiểu sao có một con gà rừng bay xổ đến cào bới lung tung phá tổ của chúng con làm chúng con hoảng loạn phải chạy hết ra khỏi tổ. Trong lúc chạy đó chúng con gặp sóc nên mới cắn sóc cho hả cơn tức bỗng dưng bị gà rừng phá tổ.

          Lần này thì vua Then cho gọi gà rừng. Vừa nhìn thấy gà vua Then đã quát ngay:

          - Gà rừng tại sao tự dưng ngươi lại đi bới phá tổ kiến bống?

          Gà rừng thật thà đáp:

          - Lúc ấy con đang kiếm ăn ở chỗ nương vừng. Tự nhiên có hạt vừng bắn vào đúng mắt con. Không chịu nổi con mới bay lên cành cây đậu rồi đạp chân lung vô tình làm hỏng tổ kiến chứ không phải là do cố ý.

          Vua Then lại cho gọi cây vừng để hạch tội. Cây vừng đổ tội cho hoẵng. Hoẵng lại đổ tội cho ve sầu.

          Vua Then bèn cho gọi đến ve sầu. Ve sầu cố gắng thanh minh:

          - Dạ bẩm thưa vua Then. Cứ mùa hè tới nắng nóng nên ve sầu chúng con tìm đậu ở dưới những bóng cây râm mát. Tụ tập cùng nhau đông đúc nên chúng con rủ nhau hát chơi cho vui mà thôi.

          Nghe ve sầu nói xong vua Then phán xử:

          - Ve sầu các ngươi chỉ vì thú vui của mình mà làm tổn hại tới người khác. Vì vậy các ngươi phải lấy ruột gan của mình đền cho nòng nọc.

          Thế là từ đấy loài ve sầu con nào trong bụng cũng bị rỗng bởi ruột gan đã phải đem đền cho nòng nọc.

         

         



                [1] Cây mák tỉnh kình: Là loài thân dây leo như gấc quả to cỡ bằng quả bưởi lớn. Bổ ra trong mỗi quả có từ 6 - 8 múi hạt nhân hạt đem nướng hoặc luộc lên ăn rất bùi và ngậy.

More...

Một thoáng Lai Châu

By

MỘT THOÁNG LAI CHÂU

Lai Châu – trái tim nơi cuối trời Tây Bắc của tổ quốc nơi còn vô vàn khó khăn nhưng cũng có vô vàn điều thi vị.

Ở đây bạn có thể thấy một Sìn Hồ bồng bềnh trong biển mây hay chợ phiên vùng cao sặc sỡ sắc màu những bản làng đẹp như trong tranh một bài dân ca dân vũ hồn hậu một nét hồn nhiên của tuổi thơ bên cạnh sự vươn lên mạnh mẽ của thị xã trẻ hoặc hình ảnh con sông đà cuồn cuộn hùng vĩ đang dần bị chinh phục bởi bàn tay con người tạo nên những khung cảnh rất đỗi nên thơ.

Hãy cùng chiêm ngưỡng một thoáng Lai Châu

 

Dòng sông Đà huyền sử

Sương sớm trên sông Đà

Bản bên sông

Bản ven chân núi

Muôn trùng biển mây trên cao nguyên Sìn Hồ

Theo Xuân Thi (baolaichau.vn)

More...

Truyền thuyết Dá Tai Nao

By

TRUYỀN THUYẾT DÁ TAI NAO

           Ngày xửa ngày xưa ở vùng đất Mường Xo có hai dòng họ lớn dòng họ Hoàng và dòng họ Tao (là dòng họ Đèo ngày nay). Chẳng biết từ thưở nào có một lời nguyền cho rằng nếu người họ Hoàng mà lấy người họ Tao thì mường bản sẽ không được bình yên và trở nên loạn lạc (bá mợng). Cho nên hai dòng họ này không bao giờ dám gả con cái cho nhau.

          Thế rồi lời nguyền cũng không ngăn cản được có một người con trai họ Hoàng yêu một người con gái họ Tao. Hai người yêu nhau tha thiết bất chấp sự cấm đoán của cả hai bên dòng họ.

          Thấy nếu ở lại bản thì hai người sẽ không bao giờ lấy được nhau vậy là họ bàn nhau cùng dắt nhau chạy trốn đi sang sống ở nơi khác. Nhưng cho dù họ có trốn đến ở bản nào thì gia đình họ hàng cũng biết rồi lại đi bắt họ về. Mỗi lần bị bắt trở về hai người đều bị trói nhốt ở chuồng ngựa  bị đánh đập rất khổ sở.

          Không nản hai người lại tìm cách rủ nhau trốn. Lần này họ bàn nhau phải trốn đi xa tới tận chân trời góc bể (tin phạ che nặm) thì mới không bị bắt lại nữa.

          Đôi trai gái cùng nhau chạy trốn khi đi đến địa phận núi Cổ Rồng (Pụ khọ lôộng)[1] thì họ gặp một bà cụ già râu tóc bạc phơ trên tay cầm cây gậy trúc. Hai người cùng quỳ xuống hỏi cụ rằng:

          - Cụ ơi làm thế nào thì chúng cháu mới có thể lấy được nhau?

          Bà cụ không trả lời câu hỏi mà chỉ kể cho hai người nghe lại câu chuyện về cuộc đời của mình. Đời bà ở kiếp trước cũng đã từng yêu say đắm một người nhưng cha mẹ hai bên không đồng ý cho lấy. Không thắng được số mệnh nên bà và người yêu cùng gieo mình xuống vực tự vẫn. Vì thế sang cho đến kiếp này bà vẫn một mình ở vậy cho đến già mà không hề yêu ai.

          Nghe xong câu chuyện buồn đôi trai gái thất vọng đến khôn cùng. Họ cũng định gieo mình xuống vực tự vẫn như hai người trong câu chuyện kể của bà cụ. Nhưng bà cụ ngăn lại và bảo:

          - Thôi đừng có bao giờ để mình hết hy vọng. Hai cháu hãy tiếp tục lên đường đi tìm Dá Tai Nao. Dá Tai Nao sống ở đâu hai cháu sống ở đấy thì sẽ không một ai tìm thấy hai cháu. Và hai cháu sẽ được ở bên cạnh nhau mãi mãi. 

          Đôi trai gái họ Hoàng và họ Tao được thắp lên tia hy vọng liền lên đường đi tìm Dá Tai Nao theo như lời chỉ bảo của bà cụ. Hai người đi đến đâu cũng hỏi dân bản địa có ai biết Dá Tai Nao ở chỗ nào không. Được hỏi người thì lắc đầu nói không biết người thì chỉ xa tận chân trời và bảo Dá Tai Nao ở đó.

          Đôi trai gái không hề nản lòng họ cứ thế dìu tựa vào nhau mà đi. Năm trôi rồi tháng qua đôi trai gái trẻ xưa kia đã trở nên tóc bạc da mồi mà vẫn không tìm được Dá Tai Nao. Hai người đứng ở lưng núi Cổ Rồng mà khóc than. Vua Then động lòng nên mới phái xen cha xuống giúp họ. Xen cha xuống chỉ lối cho hai người đi thẳng. Đi theo lối xen cha chỉ hai người gặp được một cụ già đang chăn trâu. Cụ nghêu ngao hát:

          "Núi Cổ Rồng đường xa và hiểm trở

          "Lạnh khiến con người hoá thành đá lặng câm

          "Đỉnh núi Cổ Rồng cây mọc lông người mọc râu[2]

          "Nhưng đã đến được nơi này thì đời bình yên không lo lắng".[3]

          Nghe câu hát của ông cụ hai người hiểu ý là đi nữa thì sẽ gặp được Dá Tai Nao và họ sẽ được sống cùng bên nhau trọn đời.

          Từ chỗ hai người gặp cụ già chăn trâu lên đến đỉnh núi Cổ Rồng còn phải đi qua 9 con dốc cao dài và hiểm trở nữa. Hai người lại dìu nhau tựa vào nhau men theo lối trâu rừng mà đi. Khi hai người đi qua hết được đỉnh dốc thứ 8 thì chỉ thấy xung quanh toàn là những cây cổ thụ. Không khí lạnh rét run người sương mây che kín lấp chẳng còn nhìn thấy gì. Hai người vừa mệt vừa đói vừa rét không thể đi tiếp được nữa. Họ bèn ngồi xuống một tảng đá ôm lấy nhau mong truyền hơi ấm cho nhau. Tuyết rơi xuống phủ lên hai người. Họ chết đi hoá thành một tảng đá hình một nam một nữ ôm chặt lấy nhau không rời.

          Về sau người đời nhìn thấy đặt tên cho tảng đá đó là Dá Tai Nao (Già chết rét) mỗi khi đi qua hòn đá này người ta thường đến vái và cầu chúc cho họ mãi mãi bên nhau như ước nguyện.[4]

         



                [1] Pụ khọ lôộng chính là dãy núi Hoàng Liên Sơn bây giờ. Theo tín ngưỡng của người Thái vùng Mường Xo thì đây chính là nơi tiếp giáp giữa trời và đất. Linh hồn con người khi tạ thế muốn đi lên trời (mường bun) thì phải đi qua nơi đây.

                [2] Bắt nguồn từ câu chuyện truyền thuyết này người Thái mới sử dụng câu "mạy ók khun cụn ók nốt" (cây mọc lông người mọc râu) để chỉ những nơi cực rét. Rét đến nỗi có tuyết rơi bám vào cây vào người khiến cho cây trông như mọc lông người như mọc râu vậy.

                [3] Nguyên văn phiên âm tiếng Thái: "Pụ khọ lôộng phái phơng pay đắc/ Hẳư cụn chăư nọi pến dá tai nao/ Hô khọ lôộng mị mạy ók khun cụn ók nốt/ Pay họt đảy cá nặn bớ mí phắư tọ họt".

                [4] Tảng đá Dá Tai Nao mang hình một đôi trai gái ôm ấp nhau trước đây tồn tại ở chỗ trạm tôn (ranh giới giữa tỉnh Lào Cai và Lai Châu bây giờ). Người dân sống xung quanh vùng này coi đó là một biểu tượng của tình yêu. Họ rất tôn trọng tảng đá khi đi qua bao giờ cũng phải ngả mũ nón sợ không dám nói chuyện vì sợ làm mất giấc ngủ của đôi Dá Tai Nao. Nhưng về sau do nhu cầu mở đường quốc lộ người ta đã phá mất tảng đá này.

More...

Tục xăm cằm của dân tộc Mảng

By

TỤC CĂM CẰM CỦA DÂN TỘC MẢNG
Bài và ảnh của Thái Hữu Thịnh
 
Lễ cúng trước khi xăm cằm
 
Người Mảng chỉ duy nhất có ở tỉnh Lai Châu với hơn 3.000 người cư trú trên địa bàn 20 bản thuộc 8 xã của hai huyện Sìn Hồ và Mường Tè.
Từ xa xưa người Mảng có tục lệ xăm cằm cho nam nữ thanh niên ở độ tuổi 12-18 đánh dấu sự trưởng thành của một con người trong cộng đồng. Tục xăm cằm tượng trưng cho sức mạnh của đấng tối cao che chở giúp đỡ cho con người trước thế giới siêu nhiên cũng như cầu mong đức tính hiền dịu đảm đang cho người phụ nữ. Người được xăm cằm cảm thấy tự hào vui vẻ vì biết được sau nghi thức này mình đã trở thành người trưởng thành có tiếng nói trong cộng đồng dòng tộc được mọi người tôn trọng hơn.

Tục lệ xăm cằm bắt nguồn từ một truyền thuyết. Ngày xưa có đôi vợ chồng trẻ ban đầu lấy nhau rất yêu thương nhau chăm chỉ lao động. Nhưng từ khi chị vợ sinh được một bé trai kháu khỉnh thì trở nên lười biếng hay mắng nhiếc đay nghiến chồng. Người chồng đi làm nương rẫy vất vả nhưng về nhà vẫn phải làm đủ mọi việc. Hôm ấy sau một ngày ra suối lặn ngụp bắt cá nhưng chỉ bắt được vài con cá bé tý chị vợ hết lời mắng nhiếc chồng. Buồn tủi anh chồng ra bờ suối ngồi than thở thì Thần Chông Gô Chươi Lụa hiện ra đưa cho anh chồng một sợi dây đen và bày cho anh về nhà cắm lá xanh ở hai đầu cầu thang rồi lấy kim khâu bớt mồm vợ lại.

Anh chồng nghe theo lời Thần chỉ bảo nhưng khi thấy vợ tỏ ra ân hận thì không nỡ khâu mới nghĩ ra cách lấy kim châm thành từng lỗ xung quanh miệng vơ sau đó giã lá cây chàm bôi lên những lỗ châm kim giả làm những vết chỉ đen.

Từ đó chị vợ thay đổi hẳn tính nết biết kính yêu cha mẹ thương yêu nhường nhịn chồng con. Gia đình hạnh phúc trở lại như trước. Rồi những nhà có con cái lớn trong bản đều mong muốn con mình sẽ được xăm cằm để có cuộc sống hạnh phúc chăm chỉ làm ăn... Nhiều người còn thay đổi hình xăm xăm hình con rồng hoặc những hoa văn đẹp xung quanh miệng. Lâu dần việc làm đó trở thành tục lễ xăm miệng của người Mảng.

More...

Người vùng cao là thế

By

NGƯỜI VÙNG CAO LÀ THẾ

Trương Hữu Thiêm

 

Bát này rồi bát nữa

Bát nữa lại bát này

Uống cho con cho vợ

Uống cho chân cho tay

 

Uống để thương để nhớ

Lời nói như tên bay

Lời nói như thước thợ

Chỉ một đường thẳng ngay.

 

Người vùng cao là thế

Uống chưa say chưa về

Vừa đi đường vừa hát

Bài nào cũng khê khê

 

Bát này rồi bát nữa

Bát nữa lại bát này

Tay tóm vào đuôi ngựa

Con ngựa cũng say say.

 

Bát này rồi bát nữa

Bát nữa lại bát này

Chân bước theo chân ngựa

Lòng bay bay bay bay…

More...

Khảo bình về Xúng Chụ Xon Xao

By

KHẢO BÌNH VỀ SỐNG CHỤ SON SAO (XÚNG CHỤ XON XAO)

Nhà thơ  Nguyễn Khôi

Bài 1: VỀ 4 chữ SỐNG CHỤ SON SAO

Đúng ra phải gọi là “Tiễn dặn bạn tình” còn dịch là “Tiễn dặn người yêu” (cách nói của thời hiện đại) coi như đạt được sự tương xứng về cấu trúc nhưng lại chưa lột tả được hết ý nghĩa hàm ẩn. Từ SON vừa có nghĩa là DẶN nhưng còn có nghĩa là SỰ HỌC- bài học nghĩa sau mới là nghĩa chính.Với tâm tư sâu sắc của Người yêu cũ đã trải nghiệm qua một cuộc tình đầy bi thương với cốt lõi của Truyện thơ hàm tải trong chừng 400 câu thơ đã diễn tả lời TIỄN DẶN của nhân vật ANH YÊU lấy tiếng thơ là tiếng lòng mà gửi gắm bầu tâm sự với người BẠN TÌNH muôn đời không dứt (Yêu nhau mà không lấy được nhau) .
Truyện thơ SỐNG CHỤ SON SAO là một bản Trường ca trữ tình (chứ không phải là “Sử thi”-trường ca Anh hùng). Đó là nghệ thuật kết hợp giữa truyện Dân gian và thơ Dân gian
(điệu hát KHẮP-hát thơ rất phổ cập ở Dân tộc Thái Sơn La-Tây Bắc-Việt Nam) nên gọi nó là “Truỵên thơ” là hợp lý nhất.
Theo truyền thuyết : Đây là một câu chuyện tình có thật của một đôi trai gái ở Bản Panh và Bản Sái thuộc xã Tranh Đấu huyện Thuận Châu (Mường Muổi) tỉnh Sơn La ngày nay.
Vì thế hai Bản (Làng) này có thể gọi chung là “Bản Panh Sái” cũng được( mà Panh Sái là cách nói lái tiếng “Sai Pánh” mà ra “Sai Pánh” là tiếng gọi âu yếm yêu thương).NK tôi đã có thời gian làm “Cán bộ cắm Bản”( nói theo kiểu đối phương là “Việt cộng nằm vùng” ở đây hồi năm chiến tranh 1966-1967) nên đã được nghe Già làng và bà con cô bác kể và hát cho nghe về thiên tình sử lâm ly bi thương này ( kiểu như ở Vêrônna bên Ý).

Sống Chụ Son Sao là đỉnh cao của Văn học Thái ( Thái đen -Việt Nam) mà ngôn ngữ (tiếng) Thuận Châu Mường La là tiêu biểu ( khi được truyền lên Lai Châu- Điện Biên sang Lào-Thái Lan vào Hòa Bình- Thanh Hóa-Nghệ An thì phát âm và câu chữ có biến đổi…) Truyện thơ được sáng tác trong xã hội thịnh trị của Thế kỷ 17 ở vùng Tây bắc Đại Việt ngôn ngữ thơ đã đạt trình độ điêu luyện tài tình hầu hết các thể thơ Thái thông dụng đã đươch sử dụng khá nhuần nhuyễn trong Sống Chụ Son Sao từ thể Khắp Bắc câu dài 11 12 chữ đến thể Khống Khái câu ngắn 5 6 chữ những thể thơ này được dùng xen lẫn với nhau rất hài hòa tuyệt diệu.
NK tôi ( Chàng trai Đình Bảng) vốn là một Kỹ sư Nông nghiệp năm 1963 lên Sơn la công tác đã có hàng chục năm ở Bản cùng sống với đồng bào hết Sông Mã laị Mai Sơn ( Mường Mụa) Thuận Châu Mường La…Cứ như vậy năm tiếp năm trải 21 mùa hoa Ban nở ( Ban pún) mùa con ve Y Liếng kêu ran với tiếng chim Tăng Ló gọi khi mùa lũ về suốt cả thời gian tuổi trẻ. Lòng quê Quan Họ đã thấm đượm hương sắc Bản Mường say mê với những khúc tình thơ xứ Thái… phải chăng vì thế đã nhập hồn vào các câu thơ Sống Chụ …để rồi bằng thể thơ truyền thống của Người Kinh Bắc (với Nguyễn Gia Thiều Đoàn Thị Điểm) NK đã ” Diễn Nôm” ra 1024 câu “Tiễn Dặn Người Yêu” dâng tặng cho Quê hương xứ sở…Đây là những câu tuyệt đẹp :

- Có đêm chuyện chừng quên gà gáy
Đeo mộng về trăng rải như mơ
- Quả cau đã buộc dây trầu gỡ sao
-Cầm sào dời bến lòng đau nuốt hờn
-Nhớ quê đồng đã vào mùa
Mạ ai gieo để ai bừa ruộng em
-Nhưng còn đây trái tim hồng
Dây tơ vương vấn theo từng bước anh
Người đi xa quẩn quanh Vía bám
dây trầu leo lên quấn hồn yêu
-Cho dù đã vợ người ta
Đã yêu xin xẻ lòng chờ đợi nhau
Mùa hoa bưởi hoa ngâu hẹn đợi
Hoa Mạ vàng chờ tới tàn phai
Hoa tàn em nhúng sương mai
Hai mươi năm gói khăn mùi còn thơm
-Xa em lên Mường Lay núi biếc
Lối Mường So đá xếp quanh co
cheo leo dốc dựng bên bờ
Chênh vênh cuối thác sóng xô bên trời
Áo anh đã tă tơi xơ xác
-Khi anh đi cải ngồng cánh bướm
Anh trở về cải muộn đơm hoa
Khi đi Piêu mới rủ là
Khi về áo trẻ khắp nhà dăng phơi
-Sông Mã cạn lòng trơ bằng đĩa
Sông Đà nông bằng đũa hãy quên
-Đêm nằm không mảnh lót lưng
Cơm ăn như cát đói từng đêm đêm V.V…

Và 3 câu “kết” (dịch) người dịch lấy 3 ý theo 3 kiểu:
-Một câu thơ Tây (kiẻu Pháp-Ý) “Trúng hồng tâm mũi nỏ thần yêu” vẫn hàm ý thơ gốc Sống Chụ với ý thơ Xuân Diệu ( Cứ mỗi sớm Thần vui hằng gõ cửa Thần ái tình bắn những mũi tên vào tim Chàng và Nàng).
-Một câu thơ Thái “Chỉ vào guồng cuộn tơ gieo”.
-Một câu là con cháu cụ Nguyễn Du: xin trở lại thời điểm ra đời của Sống Chụ với hương vị “Ngâm khúc” cổ điển :
“An cư lạc nghiệp bao nhiêu là tình”
âu cũng là khẳng định một xã hội thịnh trị với trai thanh gái lịch của vùng quê Quan Họ vùng đất Thuận Châu của Bản Sai Pánh ( bản Chiềng Ly chua đi đã nhớ ) thân yêu ơi nơi giầu tiếng dân ca óng mượt lời vàng ý ngọc. Ôi quả thực là đất nào người ấy ( Người là hoa của đất) đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu tâm hồn tình nghĩa Người Việt Nam ta lúc nào cũng là ” Đeo mộng về trăng rải nhơ mơ” Và ” khăng khăng son sắt mối tình còn đeo” muôn đời là vậy .

Còn tiếp…
Nguyễn Khôi – cẩn bút…

*Bài 2 : VỀ CHỮ “CHỤ” CỦA NGƯỜI THÁI

Cũng như nhiều Dân tộc anh em khác người Thái quan niệm con người ta có phần XÁC và phần HỒN ( Vía )-khuôn phi khuôn khuôn ngau.
Người ta tin rằng số phận con người phụ thuộc chặt chẽ vào quan hệ cái gọi là MINH-NÉN-KHOK:
-MINH: là mặt bằng không gian của đất (cõi trần).
-NÉN: là Trục dọc có hình tựa cây măng mọc thẳng ( Nó nén ) đáy NÉN ở mặt đất còn đỉnh NÉN chạm tới không gian Trời ( Then ).
NÉN được coi là sinh kiếp số mệnh :đóng vai trò sự sống với trời và đất giữa cái thịnh và cái suy giữa cõi sống và cõi chết.
NÉN tốt : Người khỏe mạnh gặp nhiều may mắn ( Nén sáng: Nén hung Nén saư ).
Còn NÉN xấu là Nén mờ : người yếu ớt tâm tính xấu làm ăn lụn bại.
Có số phận là có duyên kiếp lứa đôi. Hợp duyên kiếp thì sẽ đạt tới hạnh phúc lý tưởng ngược lại thì vợ chồng phải chịu số phận hẩm hiu của Minh-Nén.

Chia lìa là vứt bỏ Minh- Nén đi vào Mường Ma ( cõi chết). Duyên chồng vợ do “Then bày- Trời đặt” còn tình yêu do “Lẽ Trời tạo ra” – vì thế mà Người Thái mới có cái gọi là CHỤ.
CHỤ là NGƯỜI TÌNH mà không phải là vợ hoặc chồng là cái gì đó cao siêu đẹp đẽ và lớn lao lắm đối với mỗi con người cụ thể .
Bởi lẽ ” Xíp Nén báu to Nén Chụ cáu “(mười Nén không thể bằng một Nén của người tình cũ). Khi yêu nhau trai gái đến nhờ bà MỘT (cô đồng) có thể giao tiếp với Thần linh để “bói” xem : thắp 2 ngọn nến đặt cạnh nhau khấn “Then chăng Then bua” đẻ nhờ Then (Trời) xem duyên phận hạnh phúc “so tuổi” ngày giờ tháng năm sinh đôi lứa có hợp không ?…Nến cháy to sáng cháy đều là “Nen feng” hợp duyên phận. Ngược lại là tình duyên trắc trở đôi bạn không nên vợ nên chồng họ sẽ trở thành CHỤ (người tình) của nhau.Vì thế có trường hợp quá yêu cả hai chấp nhận” quyên sinh” cùng nhau đi vào cõi “tử” (chết) ! Chết là MINH=O NÉN đứt hồn lìa khỏi xác.

Nguyễn Khôi – cẩn bút
còn tiếp…
*-Bài 3 SO SÁNH CÁC BẢN DỊCH “SỐNG CHỤ SON SAO”
VỚI BẢN GỐC (Tiếng Thái phiên âm)

-Sống (xống) = Tiễn đưa
-Chụ = nhân tình người tình
-Son = răn dạy bảo (son tạy= dạy dỗ) dặn dò
-Sao = gái cô gái
Sống chụ son sao = Tiễn đưa người tình dặn dò cô gái.

So sánh một số đoạn thơ hay đẹp nhất :

*-1 Cộp chụ tạu cáy khăn
Pa lăng phăn mữa xú hườn hươn chọi
Hên tò mek dắn dọi lồng tồng xí puông
Mươi luông tặp cháy cá hươn ông pên piếng
Tản chụ pên niếng nắc hặc chụ pên niếng niêu
Hứa chaư điêu bánh xong xừ đảy.

Dịch xuôi của Cầm Cường :
Bên nhau tận thâu đêm gà gáy
Đèo giấc mơ về tới nhà trăng xế đầu núi
Màn sương buông đồng làng bốn mảng
Sương lạnh sa mái nhà “Ông” thành tảng
Lời tình xôi nén chặt
Thương tình xôi nén chắc vào xôi
Mảnh tim này ai nỡ xẻ làm đôi.

Mạc Phi:
Đôi ta ngồi khuống tận khi gà gáy
Đeo mộng về nhà lúc xế vầng trăng
Bốn phía sa mù dâng
Mịt mùng sương buông lấp mái
Lời hẹn hò bền chắc
Tình đôi ta nhuyễn chặt
chung trái tim không thể xẻ đôi.

Điêu Chính Ngâu :
Ta yêu nhau cùng chơi “khuống” tận gà gáy
Mang mộng về nhà lúc vầng trăng xế đầu non
Thấy mịt mùng sương phủ bốn bề
Sương sa lấp mái đông thành tuyết
Mối tình càng vương ván
yêu nhau như nắm xôi nhuyễn chặt
Tría tim này nỡ xẻ làm đôi

Nguyễn Khôi;
Có đêm chuyện chừng quên gà gáy
Đeo mộng về trăng rải như mơ
Mù dâng sương tỏa mịt mờ
Tơ duyên xe lối hẹn hò bền lâu

*-2 Pan đắng cởn hin lạn mà lắn tặp mữ
Tặp mữ tắp phái khoa niu cơi
Lượt háu dọi xẩm xép naư mốc
Lượt baứ tốc xẩm xép naư chau
Tộc cuông chaư báu ni phaư hụ
Tộc ná chu hảy dú cuông pha.

Cầm Cường :
Ví như phiến đá tảng đập trúng vào tay
Đẹn tay đúng ngón út phía phải
Máu chưa chảy mà xót nỗi lòng
Máu chưa rơi mà nhức mhối trong tim
Đau nỗi lòng ai có thấu chăng ?
Tủi nỗi lòng vò võ gối chăn.

Mạc Phi :
Như nậy đá to đá sập
Vần đá tảng đè tay
Đè tay đè tay phải ngón út
Máu không rớt mà đau tận ruột
Máu không rơi mà buốt tận tim
Đau trong ruột không người đoái hoài
Buốt trong tim thăm hỏi nào ai?
xót xa em trùm chăn thầm khóc.

Điêu Chính Ngâu :
Như nậy đá đá sập phải tay
Đè tay đè ngón út
Máu không chảy mà xót tận tim
Máu không rơi xót đau cõi lòng
Buồn trong lòng nào có ai hay ?
Tình thương đành trùm chăn thầm khóc.

Nguyễn Khôi :
Như vần đá đá lăn đổ sập
Dập ngón tay rút ruột mà đau
Máu không rơi buốt tận đầu
Nhói trong tim hỏi ai nào biết cho ?
Trùm chăn kín xót xa thầm khóc

*-3 ….
Nham bók pục đất bók pục nằng cong
Nhám bók tong đất bók tong nằng thả
Nham bók mạ đất bók mạ nằng thả hướm lay
……..
Cầm Cường :
Mùa hoa bưởi ngắt hoa bưởi ngồi trông
Mùa hoa vông ngắt hoa vông ngồi chờ
Mùa hoa mạ ngắt hoa mạ ngồi ngóng đợi hoài

Mạc Phi :
Dù thành vợ người ta cứ xẻ lòng chờ em ạ !
Mùa hoa bưởi ngắt hoa bưởi ngồi mong
Mùa hoa vông ngắt hoa vông ngồi đợi
Mùa hoa mạ ngắt hoa mạ ngồi chờ
Hoa sắp héo sương mai em nhúng
Hoa sắp tang nước rượu em ngâm
Hoa gói khăn đào 20 năm không phai
19 đời Tạo quan vẫn thắm
Đôi ta yêu nhau lấy gì gửi mặt?
Gửi vải sợ vải sờn
Gửi đàn sợ đàn gãy
Gửi bạc vụn sợ không đáng lòng
Gửi bạc nén ? nhưng anh của khó nhà không !
Gửi vật tre mây sợ hóp
Đôi ta yêu nhau anh gửi chiếc đàn môi đồng
Còn thương anh đàn môi đồng nhớ mãi
Duyên mai sau đàn môi đây hãy lấy nhận người
Cất kỹ trong lòng em ơi đừng nhầm lẫn nhận sai !
Con khóc giơ đàn môi dỗ nín
Ngày về Trời (chết) treo trên cổ ngựa (giấy) bay
Đàn bay lên thành một cánh bướm vàng
Lời thương đặt trong lòng đừng phai
Trầu têm đặt trong giỏ đừng úa
Lạc phương trời đừng buồn
Vòng bảy cõi Mường xa đừng đổi thay !

Điêu Chính Ngâu :
Em lấy ai hãy xẻ lòng chờ
Mùa hoa bưởi em ngắt hoa bưởi ngồi mong
Mùa hoa vông em ngắt hoa vông ngồi đợi
Mùa hoa mạ em ngắt hoa mạ ngồi chờ
Hoa sắp héo đem dấp sương mai hoa sẽ tưoi lại
Hoa sắp phai đem ngâm rượu quế
Hoa sắp tàn đem gói khăn hồng
Khăn hồng để 20 năm không phai
Mười chín đời vẫn tươi
Đôi ta yêu nhau biét gửi gì làm kỷ vật ?

Nguyễn Khôi :
Cho dù đã vợ người ta
Đã yêu xin xẻ lòng chờ đợi nhau
Mùa hoa bưởi hoa ngâu hẹn đợi
Hoa mạ vàng chờ tới tàn phai
Hoa tàn em nhúng sương mai
20 năm gói khăn mùi còn thơm
19 đời Tạo quan vẫn thắm
Mặt thân thương gửi gắm gì hơn
Vải ư ? sợ vải chóng sờn
Đàn ư ? lại sợ gãy đàn ngang cung
Gửi bạc vụn sợ lkhông xứng đáng
Bạc nén ư ? Anh kiếm chưa ra
Gửi tre lại sợ tre già
Đàn môi cất kỹ kẻo mà nhận sai
Con khóc lấy đàn môi dỗ nín
Ngày về Trời theo cánh ngựa bay
Lời thương em nhớ đừng phai
Hồn thương đừng có đổi thay cõi trời
Như hóa phép vàng tươi cánh bướm
Qua hè về đông đến cưới nhau

*-4 Mứa lồng hươn phác cát hính pên bứa
Bát lau lửa xửa ón nọi ma ták têm chăn

……..
Cầm Cường :
Lúc ra đi hạt cải mới nảy mầm
Tới ngày về áo con tre phơi đã đầy sân
….
Mạc Phi :
Khi anh ra đi cải chia cánh bướm
Khi anh trở về cải già đơm hoa
Lâu ngày em đã quên hơi hết lạ.
Khi anh ra đi khăn Piêu đen em còn vắt sào ngang
Khi anh trở về áo con nhỏ đã dăng đầy sân
Dây trầu không cũng xào xạc rụng cuống
Sâu khoét trong lòng cây tươi được chăng ?
bạn lứa đều nên duyên may mắn
Thiẹt riêng anh ở vắng một mình !

Điêu Chính Ngâu :
Khi anh đi rau cải mới mọc mầm
Chiếc Piêu đen còn phơi sào giữa
Lúc anh về áo con nhỏ phơi đầy sân
Rì rào lá Trầu rơi khỏi cuống
Tre kém tươi phải chăng sâu khoét?
Bạn cũ đều nên đôi nên lứa
Còn ta thời lẻ loi đơn độc !

Nguyễn Khôi:
Khi anh đi cải ngồng cánh bướm
Anh trở về cải muộn đơm hoa
Khi đi Piêu mới rủ là
Khi về áo trẻ khắp nhà dăng phơi
Lá trầu vàng rụng rơi khỏi cuống
Cây tre sầu chết đứng vườn bên
bạn bè nên lứa nên duyên
Riêng anh đơn độc nhìn em bẽ bàng.

Thơ Thái phổ biến khổ thơ gồm 3 câu một đây là một cách chia khổ thơ đặc sắc để tạo ra sự nhấn mạnh (tạo thành 1 ý kiểu vần Lưng của hát KHẮP rất vần có tính cân đối nhịp nhàng dễ đọc dễ ngâm). Thể KHẮP phải chăng là gần với thể ngâm khúc ( song thất lục bát- độc nhất vô nhị chỉ Người Kinh mới có ) ?…Vì thế nên NK tâm đắc “vận” vào (áp vào) mà dịch Sống Chụ Son Sao.
Trong các bản Sống Chụ Son Sao còn lại đến nay thì :
! Bản Điêu Chính Ngâu (1914-1958)-Thái trắng Quỳnh Nhai-SơnLa là người sưu tầm dịch đầu tiên (nxb Hội Nhà Văn-1957) được coi là bản dịch sát nghĩa nhất tuy không đầy đủ bằng các bản sau.
2 Bản do Nhà văn Mạc Phi (1028-1996)-Hoa tên thật là Lưu Huy Hòa sinh tại Mông Tự -Vân Nam ( Trung Quốc) lấy vợ Thái từng là Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Lai Châu.
Bản này(1960) dài hơn bản 1957 tới 242 câu…được coi là những câu thơ có giá trị làm cho ý nghĩa và hình ảnh các đoạn thơ trở nên tinh tế sống động hẳn lên.Trước khi tiến hành dịch Mạc Phi đã so sánh đối chiếu chỉnh lý giữa các bản sưu tầm năm 1957 1958 và 5 bản chép tay khác ở Thuận Châu Mai Sơn Mường La ( Sơn La).Sau đó Ông còn hiệu đính lần cuối với sự tham gia của 1 số nghệ nhân người bản địa . Đây có thể coi là một bản Truyện thơ dược hiệu đính ( nhuận sắc) công phu .. Tuy nhiên theo các nhà sưu tập nổi tíếng của Dân tộc Thái như Điêu Chính Ngâu Hà Hem Quàng Văn Đôi Pánh Túng Phóng Nói Lù Văn Nhớ Cầm Bao Cầm Biêu Lò Văn Sỹ Lò Văn Cậy Cầm Cường…thì trên đại thể tất cả các bản truyện thơ Sống Chụ Son Sao đều chỉ khác nhau ở một số chữ đệm đầu câu hoặc cuối câu thơ hoặc khác nhau về cách sắp xếp một số câu trong một số đoạn (do là thể KHẮP -hát thơ).
PGS – TS Cầm Cường (1934-1996)-Thái đen Sơn La Đại học Tổng hợp Hà Nội mới công bố 1 số đoạn dịch khá sát nghĩa…
Một điều ngẫu nhiên thú vị là : các dịch giả (Đ.C.NG.-M.P-NK) có thời đều ở Bản Nà Coóng xã Chiềng Cơi huyện Mường La tỉnh Sơn La- nơi khu gia đình cán bộ Khu Tây Bắc và tỉnh Sơn La cư trú – phải chăng đó là duyên tiền định để các “Nhà” cùng Hứng khởi trước sau cất công thả hồn “dịch” Sống Chụ Son Sao” cho mọi người ( các Dân tộc anh em trong mái nhà Việt Nam) cùng ngâm nga thưởng thức thiên tình sử bất hủ này !

Trích ” Tiễn dặn người yêu” toàn tập- Nguyễn Khôi ( biên soạn) 418 trang khổ 13×19 nxb VH Dân tộc-Hà Nội -năm 2000
Bài đã đăng ” Kỷ yếu Hội Nghị Chương trình Thái Học” Hà Nội 2002
NGUYỄN KHÔI

More...

Thơ tình người Thái

By

 

THƠ TÌNH NGƯỜI THÁI

Khảu tim lạu

Bớ to mặn môốc

Khảu hôốc lạu

Bớ to mặn ken

Ngứn tim khen

Bớ to ven toóng chụ phák

Mák chết pộ

Bớ to khót pák “khái so”.

         Dịch nghĩa:

Kho đầy thóc

Không bằng củ mài nướng

Gạo sáu kho

Không bằng cuống củ mài

Vòng bạc đầy tay

Không bằng nhẫn đồng người yêu trao gửi

Bảy buồng quả

Không bằng một lời nói của người thương.

More...

Một số tập quán sinh hoạt ngày thường của người Dao Khâu

By

 

Một số phong tục tập quán trong sinh hoạt hàng ngày của người Dao Khâu

Tẩn Kim Phu

 

             Tập quán trong ăn uống: Người Dao Khâu ăn cơm tẻ. Những dịp lễ tết có thêm cơm nếp hoặc bánh. Tết Nguyên Đán có thêm bánh chưng bánh dầy. Tết tháng bảy (13 14 15 tháng 7) có bánh chưng. Tết Thanh Minh chỉ có bánh dầy.

Nếu nhà thiếu ăn thì phải ăn thêm ngô khoai sắn. Mùa ngô bắt đầu chín thì ngô nếp non là một món ăn nhà nào cũng có (người ta nướng luộc hoặc làm thành bánh gọi là bánh ngô non để ăn. Cách làm khác với bánh ngô già hay bánh ngô chua).

Thức ăn chính là các loại rau xanh đậu đỗ quả bí xu xu khoai lang khoai sọ khoai tây lạc vừng … hoàn toàn do gia đình tự sản xuất. Một số loại trồng xen giữa cây ngô (vụ xuân hè). Riêng rau cải trồng vào vụ đông xuân thì trồng xen đậu răng ngựa đậu Hà Lan hành tỏi rau mùi …

Đậu phụ (được chế biến từ đậu tương) cũng là một món ăn gần như thường xuyên của người Dao Khâu. Bình thường nếu không có thời gian thì họ làm “đậu phụ lười” (chỉ xay xong nấu lên ăn luôn không lọc không ép). Nhưng khi nhà có việc hoặc ngày lễ Tết thì họ làm đậu phụ ép. Từ đậu phụ có thể làm được nhiều món:

- Óc đậu.

- Đậu phụ nấu canh với lá hành.

- Đậu phụ rán sốt cà chua.

- Đậu phụ nhồi thịt (thịt gà hoặc thịt lợn băm nhỏ thêm gia vị).

- Đậu phụ nhự.

Ngoài ra bã đậu có thể làm thành “tập chấy” (một món ăn có mùi hương).

Các loại bánh chế biến từ lương thực:

- Bánh ngô non (ngô nếp) gọi là “mẹ lún dhua”.

- Bánh ngô chua (ngô tẻ) gọi là “dhùa xui”.

- Bánh tổng hợp (bột gạo tẻ + bột y dĩ) “dhùa íp”.

- Bánh trôi (bột gạo tẻ + bột gạo nếp) “dhùa chíu”.

- Bánh cối (bột gạo tẻ + bột gạo nếp) “dhùa khâuz”.

Món ăn: Ngoài việc sào nấu rang luộc ăn tươi các loại rau còn làm dưa khô để ăn cải:

- Dưa nước (lài xùi đòng).

- Dưa khô (lài xùi íp). Dưa khô có thể ăn tươi xào nấu canh hoặc phơi khô để ăn dần.

Cách ăn uống: Khi ăn cơm người Dao Khâu thường hay ngồi quanh bàn tròn không phân biệt chỗ ngồi. Song thường hay nhường cho người già ngồi gần lửa để sưởi ấm. Con gái con dâu thường ăn riêng. Nếu bầy mâm ăn ở nhà trong thì người con dâu không được ngồi ăn chung. Con dâu hoặc con gái phải thường xuyên quan sát mâm ăn nếu thấy thức ăn vơi phải lấy thêm vào. Đứng trực đằng sau để lấy cơm cho người già hoặc người khách.

Nếu có khách cùng ăn thì người nhà phải mời khách ăn uống liên tục. Ai ăn xong trước phải xin phép trước khi rời mâm bằng câu “các ông bà cố bác … ăn từ từ nhé!”.

Một số tập quán khác:

* Con dâu người Dao Khâu kỵ ngồi gần với ông nội bố chồng anh em trai anh em rể của bố chồng anh em trai của mẹ chồng chồng của chị em gái của mẹ chồng anh trai và chồng của chị gái chồng.

Lý do: Họ là bậc trên hoặc cùng bậc nhưng là trên chồng mình (Những người trên đây (toàn bộ là đàn ông) phải thực hiện điều cấm rất nghiêm ngặt: không bao giờ được vào buồng của cô dâu. Nếu có quan hệ “nam nữ” với cô dâu là phạm tội lớn. Ở cõi dương gian không xử được thì khi chết xuống âm phủ sẽ bị Diêm Vương hành tội (có tranh vẽ trong bộ tranh Đại Đường mô tả cách hành tội).

Do có quy định chặt chẽ như vậy một khi đã trở thành thông gia của nhau thì con cháu hai gia đình phải xưng hô đúng quy định và không bao giờ được quan hệ yêu đương nữa. Từ khi cưới xong hai bên đã thành thông gia phải đổi lại toàn bộ cách xưng hô: hai bên bố mẹ của cô dâu chú rể gọi nhau bằng “Shình cha” (thông gia). Cả bố mẹ anh chị em của chồng gọi anh chị em của vợ đều theo cách giống nhau. Ngược lại cả bố mẹ anh chị em bên vợ gọi anh chị em bên chồng cũng theo một cách giống nhau. Ví dụ: Chồng gọi anh vợ là cậu lớn (tầm não) thì cả bố mẹ anh chị em bên chồng cũng gọi anh vợ là cậu lớn. Vợ gọi anh chồng là bác thì cả bố mẹ vợ anh chị em của vợ đều gọi anh của chồng là bác (pek).

* Người Dao Khâu kiêng ăn thịt chó:

Nguyên do: Bàn Vương là thuỷ tổ của người Dao. Trước khi được phong Bàn Vương người được nhận nhiệm vụ đi đánh Cao Vương ở nước nọ. Người đã hóa thân thành một con chó (long khuyển) để chui vào cung điện của vua Cao Vương cắn chết vua ngoặm đầu mang về trình vua Bình Vương. Sau khi người chết vua Bình Vương mới truy phong cho người là Bàn Vương. Người Dao phải thờ cúng Bàn Vương muôn đời. Vì vậy họ không được ăn thịt chó. Về mặt tâm lý con chó là con vật giữ nhà bảo vệ tài sản cho con người là con vật có công lao con người không nỡ ăn thịt nó.

Trong sinh hoạt hàng ngày người Dao Khâu có nếp sống buổi sáng dậy phải rửa mặt rửa tay bằng nước nóng buổi tối trước khi đi ngủ phải rửa chân cũng bằng nước nóng. Khi có khách đến nhà người nhà (thường là đàn bà con gái) phải bưng chậu nước đến tận nơi cho khách rửa mặt và chân tay. Đợi khách rửa xong lại bưng đi đổ. Khi ăn cơm thì đàn bà con gái phải túc trực đằng sau người nhà hoặc người khách để lấy thêm thức ăn hoặc đổi thức ăn cho nóng và lấy cơm cho người nhà hoặc khách.

Khi có khách đến nhà người nhà thường mời hút thuốc lào trước. Cái điếu hút thuốc lào phải được thay nước mới trước khi đưa cho khách. Nếu khách không biết hút thuốc lào thì cảm ơn và xin từ chối. Người Dao Khâu rất quý trọng khách. Nếu khách lạ thì trước lạ sau quen. Nếu khách là người quen từ xa đến lâu ngày không được gặp nhau thì cả nhà nghỉ việc ở nhà mổ lợn thết đãi khách.

Tập quán hát đối nam - nữ.

Hát đối nam - nữ là một hình thức sinh hoạt văn hoá thông thường của người Dao. Mục đích là vui chơi giải trí qua đó để thử tài nghệ của nhau (gần giống như hình thức hát quan họ của Bắc Ninh hát Sli hát lượn của người Tày người Nùng).

Việc hát đối chỉ được tổ chức giữa một bên là người xa (khác bản khác xã hoặc khác tỉnh) với một bên là người sở tại. Nếu khách đến là nam thì người sở tại là nữ và ngược lại. Khách đến nghỉ tại một nhà nào đó trong bản người sở tại (chói wấy) biết tin thì rủ nhau đến xin phép chủ nhà có khách nghỉ để tổ chức cuộc hát. Cuộc hát chỉ được tổ chức vào ban đêm ở bên ngoài nhà. Người sở tại phải nhóm lên một đống lửa bầy sẵn ghế ngồi bắt đầu hát để mời khách. Thường phải hát mời nhiều lần. Có khi phải hát cho chủ nhà nhờ chủ nhà dẫn khách thì khách mới ra. Tuy ghế đã bày sẵn nhưng khi ra đến nơi khách vẫn phải hát một số câu để xin ghế ngồi. Sau khi khách đã ngồi vào ghế cuộc đua tài sẽ bắt đầu. Nội dung các câu hát có nhiều loại. thường là bên sở tại nêu đề tài: Có thể là hát câu đố hoặc hát trường ca (thơ cổ). Nếu người giỏi có thể xuất khẩu thành chương để ca ngợi đất nước con người. Lại có loại hỏi đáp về lai lịch của người mới gặp. Loại này thường ví von rất xa xôi. Chẳng hạn: nếu sinh vào mùa xuân người ta chỉ nói là mùa hoa đào. Sinh vào mùa thu người ta chỉ nói là mùa con ve sầu kêu hoặc mùa lúa trổ bông … Nếu trai gái còn trẻ mà hát đối thì đó là cuộc hát giao duyên. Trong loại hát này đôi bên đều rất quý nhân (quấy phin quấy luồng …) không bao giờ có những câu hát tục tĩu sỗ sàng cả.

Cuộc hát đối có thể kéo dài thâu đêm. Nếu chưa thoả mãn thì họ hẹn nhau đêm hôm sau lại hát tiếp.

* Tập quán tắm nước thuốc: Đây cũng là một tập quán đặc trưng của người Dao. Cách đây không lâu trong người Dao Khâu còn có người giỏi về dùng thuốc nam chữa bệnh. Từ khi có hệ thống y tế của Nhà nước thầy thuốc nam của người Dao mất dần vai trò chữa bệnh trong đời sống. Họ cũng dấu thuốc rất kỹ nên không ai học được. cho nên khi thầy thuốc mất đi thì nghề cũng mất theo. Duy chỉ còn bài thuốc tắm thì nhiều người biết bởi bài thuốc này gần như phải sử dụng hàng ngày nhất là đối với người đàn bà đang ở cữ. Bài thuốc tắm của người Dao khá đơn giản. Nó bao gồm hơn một chục vị thuốc lá hoặc thân cây lấy từ trong rừng. Người biết mặt thuốc đi vào rừng kiếm khoảng một ngày là đủ một thang. Có vị thuốc hiếm thì họ phải hái từ trước để giành trên gác.

Việc tắm thuốc đối với đàn bà đang ở cữ là điều bắt buộc. Trong cữ phải tắm thuốc đủ năm lần. Các lần tắm được bố trí theo quy trình sau: Sau khi đẻ ba ngày tắm một lần bảy ngày tắm lần thứ hai mười bốn ngày tắm lần thứ ba hai mươi ngày tắm lần thứ tư khi đầy tháng tắm lần thứ năm. Người bình thường thì một năm tắm hai ba lần để “khí huyết lưu thông âm dương thăng bằng” dãn xương cốt. Với người có bệnh (đau cột sống đau nhức xương hoặc bị cảm mạo không ra được mồ hôi …) thì bị lúc nào thì tắm lúc đó.

* Đàn bà đẻ phải ăn rượu nếp (rượu cái):

Đây cũng là một tập quán đặc trưng nữa của người Dao Khâu. Trước khi ở cữ khoảng một tuần người ta làm sẵn rượu nếp để ở trong chum. Khi vừa đẻ xong tắm rửa xong người ta cho sản phụ ăn cơm với món thức ăn đặc biệt: rượu nếp nấu với thịt gà (hoặc trứng gà) cộng gừng tươi đập nhỏ nấu thành canh hơi đặc. Trong tuần đầu ngày ba bữa phải ăn món thức ăn này. Sau đó hàng ngày mỗi ngày phải có một bữa dùng thức ăn này cho tới khi hết vò rượu (hoặc hết ở cữ).

Tác dụng của món này ăn này là để cho cơ thể sản phụ luôn luôn nóng khí hư bài tiết ra ngoài tránh bệnh hậu sản để sản phụ có nhiều sữa cho con bú.

 

More...

Database error

ERROR From DB mySQL

DB Error: Database query failed!
» Error No: 1062
» Error detail: Duplicate entry '11700399' for key 'PRIMARY'
» Query: INSERT INTO bd_estore_online_users (id,store_id,sid,uid,username,usertype,ip,last_updated,last_page) VALUES (NULL,'12546','mfkbqtvb2d06p6r2m6mf9jrr43','0','Guest','0','54.225.57.230','2018-08-14 23:17:25','/')